Tóm lược Kinh Thánh sách thứ 12: 2 Các Vua
Sách 2 Các Vua tiếp nối mạch lịch sử bi tráng của dân tộc Do Thái, bao quát một giai đoạn đầy biến động kéo dài gần ba trăm năm — từ cuộc chuyển giao chức vụ tiên tri giữa Ê-li và Ê-li-sê vào thế kỷ thứ 9 TCN, sự suy tàn và sụp đổ hoàn toàn của Vương quốc Phía Bắc (Y-sơ-ra-ên) dưới tay đế quốc A-si-ri năm 722 TCN, cho đến thảm kịch Đền Thờ Giê-ru-sa-lem bị thiêu rụi và Vương quốc Phía Nam (Giu-đa) bị đày sang Ba-by-lôn năm 586 TCN.
Mạch chính xuyên suốt toàn bộ sách là: Lòng kiên nhẫn và ân điển của Đức Chúa Trời kéo dài qua nhiều thế hệ sai phái các tiên tri cảnh cáo; nhưng sự thờ ngẫu tượng ngoan cố và bất công xã hội không chịu ăn năn cuối cùng đã dẫn cả hai vương quốc đến sự phán xét lưu đày tất yếu theo đúng lời giao ước. Tuy nhiên, ngay giữa tro tàn của sự sụp đổ, ngọn đèn giao ước của nhà Đa-vít vẫn được Chúa bảo tồn như một tia hy vọng le lói hướng về Đấng Mê-si-a.
Bài viết dưới đây tóm lược toàn diện các sự kiện lịch sử trọng đại, giải nghĩa chiều sâu thần học và đúc kết những bài học thực tiễn cho đời sống đức tin hôm nay, với các phân đoạn Kinh Thánh được trích dẫn theo Kinh Thánh Bản Dịch Mới (NVB).
1. Sự thăng thiên của Ê-li và Sự chuyển giao quyền năng cho Ê-li-sê (Chương 1–2)
Sách mở đầu bằng sự phán xét trên vua A-cha-xia (con trai A-háp). Khi bị ngã qua chấn song cửa gác bị thương nặng, thay vì cầu vấn Đức Chúa Trời, vua lại sai sứ giả đi cầu hỏi Ba-anh Xê-bút (thần ruồi của dân Phi-li-tin). Tiên tri Ê-li đã đón đường sứ giả tuyên bố bản án tử. Hai toán quân gồm 50 lính do vua sai đến bắt Ê-li đều bị lửa từ trời giáng xuống thiêu rụi; chỉ khi viên đội trưởng thứ ba quỳ gối hạ mình cầu xin thương xót, Ê-li mới đi cùng và trực tiếp tuyên án khiến A-cha-xia chết trên giường bệnh đúng như lời Chúa (Chương 1).
Chương 2 ghi lại thời khắc chuyển giao chức vụ tiên tri mang tính lịch sử:
- Ê-li cùng người môn trò trung thành Ê-li-sê đi qua các trạm dừng chân lịch sử: Ghinh-ganh Bê-tên Giê-ri-cô Sông Giô-đanh. Ba lần Ê-li bảo môn đệ ở lại, nhưng cả ba lần Ê-li-sê đều thề dứt khoát: "Tôi nhân danh CHÚA hằng sống và mạng sống của thầy mà thề rằng tôi sẽ không lìa thầy!".
- Tại bờ sông Giô-đanh, Ê-li lấy chiếc áo choàng cuộn lại đập vào nước; dòng nước rẽ đôi sang hai bên cho hai người bước qua đáy sông khô cạn.
- Khi Ê-li hỏi: "Hãy xin điều con muốn ta làm cho con trước khi ta được cất lên khỏi con", Ê-li-sê không xin danh tiếng hay quyền thế trần gian mà xin một điều cao quý:
'Ê-li-sê thưa: “Xin cho hai phần thần của thầy ngự trên tôi!”' — 2 Các Vua 2:91
"Hai phần thần" (quyền thừa kế của người con trưởng thuộc linh) biểu thị ước nguyện muốn nhận lãnh gấp đôi quyền năng Đức Thánh Linh để tiếp nối chức vụ tiên tri đầy gian khó.
Một cảnh tượng huy hoàng đã diễn ra: một cỗ xe lửa và các ngựa lửa xuất hiện phân rẽ hai người, và Ê-li được cất lên trời trong một cơn gió lốc. Ê-li-sê xé áo mình làm hai mảnh biểu lộ sự đau buồn, nhặt lấy chiếc áo choàng của Ê-li rơi xuống, quay lại đập vào nước sông Giô-đanh và cất tiếng tuyên xưng: "CHÚA, Đức Chúa Trời của Ê-li ở đâu?". Nước sông liền rẽ đôi sang hai bên, xác nhận Ê-li-sê chính thức là người thừa kế chức vụ tiên tri vĩ đại.
Ngay sau đó, Ê-li-sê thực hiện phép lạ đầu tiên: ném một bát muối mới vào đầu nguồn nước độc tại thành Giê-ri-cô, khiến dòng nước trở nên ngọt lành và đất đai màu mỡ trở lại (Chương 2).
2. Chức vụ phép lạ của Tiên tri Ê-li-sê: Ân điển giữa đời thường (Chương 3–4)
Khác với Ê-li — người thường xuất hiện trong những cuộc đối đầu nảy lửa với vua chúa trên đỉnh núi cao, chức vụ của Ê-li-sê tràn ngập những phép lạ đầy lòng trắc ẩn diễn ra giữa đời sống thường nhật của dân chúng và các gia đình môn đồ tiên tri:
- Phép lạ mương rãnh đầy nước trong sa mạc Ê-đôm (Chương 3): Giải cứu liên quân ba vua (Y-sơ-ra-ên, Giu-đa, Ê-đôm) khỏi cơn khát chết chóc trong chiến dịch đánh dẹp quân Mô-áp. Ánh mặt trời buổi sáng chiếu trên các mương nước đỏ như máu khiến quân Mô-áp tưởng liên quân tự tàn sát lẫn nhau, ùa vào cướp bóc và bị đánh tan tác.
- Hũ dầu của người góa phụ nghèo (Chương 4:1–7): Vợ của một môn đồ tiên tri qua đời đối diện với cảnh chủ nợ đến bắt hai con trai làm nô lệ. Trong nhà bà chỉ còn duy nhất một hũ dầu nhỏ. Ê-li-sê bảo bà mượn mọi bình chứa rỗng từ hàng xóm, đóng cửa lại và rót dầu vào. Phép lạ xảy ra: hũ dầu nhỏ liên tục tuôn tràn cho đến khi không còn bình chứa nào nữa. Bà bán dầu trả hết nợ và còn đủ tiền nuôi con.
- Người phụ nữ quý tộc tại Su-nem (Chương 4:8–37): Một phụ nữ giàu có tại Su-nem kính trọng người của Đức Chúa Trời nên đã xây một căn phòng nhỏ trên lầu cho Ê-li-sê nghỉ chân mỗi khi qua lại. Để đền đáp ân tình, Ê-li-sê cầu xin Chúa ban cho bà một mụn con trai lúc tuổi già. Nhiều năm sau, đứa trẻ bị cảm nắng chết đột ngột ngoài đồng gặt. Người mẹ nén đau thương cưỡi lừa chạy thẳng đến núi Cạt-mên tìm Ê-li-sê. Vị tiên tri đã đến, bước vào phòng đóng cửa cầu nguyện cùng Chúa, nằm áp thân mình lên đứa trẻ hai lần: thịt đứa trẻ ấm dần, nó hắt hơi bảy lần và mở mắt sống lại trong vòng tay người mẹ.
- Khử độc nồi canh đắng và Phép lạ hóa bánh (Chương 4:38–44): Trong thời kỳ đói kém tại Ghinh-ganh, một môn đồ hái nhầm dưa dại có độc nấu canh; Ê-li-sê rải một nắm bột mịn vào nồi làm nồi canh trở nên vô hại. Sau đó, một người dâng hai mươi ổ bánh lúa mạch đầu mùa; qua lời phán của Chúa, Ê-li-sê phân phát cho một trăm người ăn no nê mà vẫn còn dư dả (hình bóng dự phóng phép lạ hóa bánh nuôi đoàn dân đông của Chúa Giê-xu).
3. Na-a-man được chữa lành và Tội tham lam của Ghê-ha-xi (Chương 5)
Chương 5 là một kiệt tác thần học về ân điển cứu rỗi không phân biệt chủng tộc:
Na-a-man là quan tổng binh tài ba, dũng mãnh và được vua A-ram trọng vọng, nhưng ông mắc phải căn bệnh phong hủi nan y. Một em bé gái Y-sơ-ra-ên bị bắt làm tù binh phục vụ vợ Na-a-man đã bày tỏ đức tin trong sáng: "Ước gì chủ tôi đến gặp nhà tiên tri ở Sa-ma-ri, thì người sẽ chữa lành bệnh phong hủi cho ông!".
Na-a-man mang theo đoàn tùy tùng rầm rộ cùng mười ta-lâng bạc, sáu ngàn siếc-lơ vàng và mười bộ lễ phục sang Y-sơ-ra-ên. Khi ông đứng trước cửa nhà Ê-li-sê với ngựa và xe chiến mã kiêu hãnh, vị tiên tri thậm chí không buồn bước ra tiếp mà chỉ sai người truyền bảo: "Hãy đi tắm bảy lần dưới sông Giô-đanh, thì da thịt ông sẽ được phục hồi và ông sẽ được sạch bệnh".
Na-a-man nổi giận lôi đình vì lòng tự ái: "Ta nghĩ người sẽ đích thân ra đón ta, đứng cầu khẩn danh CHÚA... Các dòng sông A-ba-na và Pạt-ba ở Đa-mách chẳng tốt hơn mọi dòng nước ở Y-sơ-ra-ên sao?". Nhưng nhờ lời khuyên can khôn ngoan của những người đầy tớ, Na-a-man đã hạ mình vâng phục:
'Vậy ông xuống dìm mình bảy lần dưới sông Giô-đanh theo lời của người Đức Chúa Trời; da thịt ông liền trở nên tươi mịn như da thịt của một đứa trẻ thơ, và ông được sạch.' — 2 Các Vua 5:141
Trở lại trước mặt Ê-li-sê, vị tướng ngoại bang cất lời tuyên xưng đức tin làm rạng danh Chúa: "Bây giờ tôi biết rằng khắp trên đất chẳng có Đức Chúa Trời nào ngoài Đức Chúa Trời tại Y-sơ-ra-ên!". Ê-li-sê kiên quyết từ chối mọi lễ vật bạc vàng để chứng minh ân điển cứu chuộc của Chúa là món quà nhưng không, không thể mua chuộc bằng tiền tài.
Tương phản bi thảm với đức tin của Na-a-man là lòng tham bỉ ổi của Ghê-ha-xi — người đầy tớ thân cận của Ê-li-sê. Ghê-ha-xi lén đuổi theo Na-a-man nói dối để vòi vĩnh hai ta-lâng bạc và hai bộ quần áo rồi đem giấu trong nhà. Khi bị Ê-li-sê vạch trần tội lỗi, bản án lập tức giáng xuống: bệnh phong hủi của Na-a-man dính chặt vào Ghê-ha-xi và dòng dõi ông đời đời; ông bước ra khỏi mặt thầy với làn da trắng bệch như tuyết.
4. Đạo quân thiên đàng và Cuộc giải vây siêu nhiên tại Sa-ma-ri (Chương 6–7)
Vua A-ram nhiều lần lập mưu phục kích quân Y-sơ-ra-ên nhưng đều thất bại vì Ê-li-sê được Chúa mặc khải và cảnh báo trước cho vua Y-sơ-ra-ên. Tức giận, vua A-ram sai một đạo quân khổng lồ cùng xe chiến mã hành quân đêm bao vây kín thành Đô-than để bắt sống Ê-li-sê.
Sáng sớm, người đầy tớ của Ê-li-sê bước ra thấy quân thù bủa vây bốn bề liền kinh hãi kêu lên: "Hỡi chủ tôi, chúng ta phải làm sao đây?". Ê-li-sê điềm tĩnh đáp lại bằng một câu nói đức tin bất hủ:
'Người trả lời: “Đừng sợ, vì những kẻ ở với chúng ta đông hơn những kẻ ở với chúng!” Rồi Ê-li-sê cầu nguyện rằng: “Lạy CHÚA, xin mở mắt cho nó thấy!” CHÚA liền mở mắt người đầy tớ trẻ, và người ấy thấy cả vùng núi đầy dẫy ngựa và xe bằng lửa bao quanh Ê-li-sê.' — 2 Các Vua 6:16–171
Đức Chúa Trời làm mù mắt quân A-ram; Ê-li-sê dẫn dắt cả đạo quân giặc vào tận giữa kinh thành Sa-ma-ri, dọn tiệc thết đãi họ no nê rồi thả cho họ bình an trở về, khiến quân A-ram kinh sợ không dám quấy nhiễu biên giới một thời gian.
Tuy nhiên sau đó, Bên-ha-đát vua A-ram lại đem toàn quân vây hãm ngặt nghèo kinh thành Sa-ma-ri (Chương 6:24–7:20), gây nên một nạn đói khủng khiếp đến mức đầu lừa bán giá tám mươi siếc-lơ bạc, phân bồ câu bán năm siếc-lơ bạc, và các bà mẹ cùng quẫn đến mức nấu thịt chính con mình ăn.
Giữa cơn tuyệt vọng đen tối, Ê-li-sê tuyên bố lời tiên tri không tưởng: "Vào giờ này ngày mai, tại cổng thành Sa-ma-ri, một đấu bột mịn sẽ bán giá một siếc-lơ, và hai đấu lúa mạch sẽ bán giá một siếc-lơ!".
Chúa đã làm nên phép lạ giải cứu qua bốn người mắc bệnh phong hủi ngồi tuyệt vọng nơi cổng thành. Họ rủ nhau liều mạng bước vào trại quân A-ram để xin ăn; khi đến nơi, họ ngỡ ngàng phát hiện toàn bộ trại quân hoàn toàn trống không! Đức Chúa Trời đã khiến quân A-ram nghe thấy tiếng vó ngựa, tiếng chiến xa ầm ầm của một đạo quân khổng lồ, khiến chúng tưởng vua Y-sơ-ra-ên thuê quân Hê-tít và Ai Cập đến đánh nên đã vứt bỏ toàn bộ lều trại, ngựa lừa, bạc vàng và lương thực tháo chạy thục mạng trong đêm.
Bốn người phong hủi đã đem tin mừng về cho kinh thành; toàn dân ùa ra cướp phá trại giặc, và giá lương thực giảm đúng y như lời Chúa đã phán qua Ê-li-sê. Viên sĩ quan từng nhạo báng lời tiên tri đã bị đám đông giẫm đạp chết ngay tại cổng thành đúng như lời báo trước.
5. Cuộc thanh trừng của Giê-hu và Sự sụp đổ của Vương quốc Phía Bắc (Chương 8–17)
Để thực hiện lời phán xét trên triều đại A-háp, Ê-li-sê sai một môn đồ tiên tri bí mật xức dầu cho tướng quân Giê-hu làm vua Y-sơ-ra-ên (Chương 9).
Giê-hu là một chiến binh hành động quyết liệt và phóng xe như bay:
- Giết chết vua Y-sơ-ra-ên (Giô-ram) bằng mũi tên bắn xuyên tim, và giết luôn vua Giu-đa (A-cha-xia) đang thăm bạn tại Dít-rê-ên.
- Khi Giê-hu tiến vào Dít-rê-ên, thái hậu Giê-sa-bên trang điểm mắt, chải đầu đứng trên cửa sổ buông lời mỉa mai. Giê-hu truyền lệnh cho các hoạn quan xô bà xuống đất; máu bà văng tung tóe lên tường và ngựa giẫm đạp thi thể bà. Khi người ta đến chôn cất, chó đã ăn thịt gần hết thi thể bà, chỉ còn lại sọ, hai bàn chân và lòng bàn tay đúng như lời sấm truyền của tiên tri Ê-li (Chương 9).
- Giê-hu tiêu diệt toàn bộ 70 con trai của A-háp và dùng mưu tập hợp toàn bộ các tiên tri và người thờ Ba-anh vào đền thờ Ba-anh tại Sa-ma-ri rồi ra lệnh tàn sát sạch sẽ, đập vụn tượng thần và biến ngôi đền thành hố rác công cộng (Chương 10).
Tuy nhiên, cuộc cải cách của Giê-hu chỉ dừng lại ở mặt tiêu trừ Ba-anh vì lợi ích chính trị:
'Nhưng Giê-hu không cẩn thận bước đi trong luật pháp của CHÚA, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, bằng hết lòng mình; ông không từ bỏ các tội lỗi của Giê-rô-bô-am, là người đã dẫn dụ Y-sơ-ra-ên phạm tội.' — 2 Các Vua 10:311
Giê-hu vẫn giữ lại việc thờ hai con bò vàng tại Bê-tên và Đan. Vương quốc Phía Bắc tiếp tục trượt dài trong sự suy đồi qua các đời vua kế tiếp (Giô-a-cha, Giô-ách, Giê-rô-bô-am II, Xa-cha-ri, Sa-lum, Mê-na-hem, Pha-ca-hia, Phê-ca, Ô-sê).
Biến cố đau thương: Sa-ma-ri thất thủ năm 722 TCN (Chương 17)
Sau hàng thế kỷ Đức Chúa Trời kiên nhẫn sai phái các tiên tri (Ê-sai, Ô-sê, A-mốt) kêu gọi ăn năn nhưng dân sự vẫn bưng tai bịt mắt, chén thịnh nộ đã đầy tràn. Vua Shalmaneser V và Sargon II của đế quốc A-si-ri hùng mạnh đã đem quân vây hãm Sa-ma-ri trong suốt ba năm, đánh chiếm kinh thành và đày toàn bộ mười chi phái phía bắc đi biệt xứ tản lạc khắp đế quốc A-si-ri.
Kinh Thánh dành trọn chương 17 để giải thích bản cáo trạng thần học:
- Họ đã phạm tội cùng CHÚA, thờ lạy các thần ngoại bang, dựng tượng tà thần trên mọi đồi cao dưới mọi cây rậm.
- Họ từ chối giao ước, bắt chước các dân tộc xung quanh, dâng con cái mình qua lửa cho tà thần, và đi theo sự hư không để chính họ trở nên hư không (17:15).
- Vua A-si-ri đưa các dân ngoại bang từ Ba-by-lôn, Cu-tha, A-va đến định cư tại Sa-ma-ri; họ kết hôn với số ít người bản địa còn sót lại và pha trộn việc thờ Chúa với thờ thần tượng riêng của họ, hình thành nên nhóm người lai Sa-ma-ri sau này.
Vương quốc Phía Bắc Y-sơ-ra-ên chính thức bị xóa sổ vĩnh viễn khỏi bản đồ lịch sử năm 722 TCN.
6. Vương quốc Phía Nam (Giu-đa): Sự phục hưng và Bi kịch của Giê-ru-sa-lem (Chương 18–25)
Sau khi vương quốc phía bắc sụp đổ, dòng lịch sử tập trung toàn bộ vào Vương quốc Phía Nam (Giu-đa). Tại đây, lịch sử chứng kiến sự xen kẽ giữa các vị vua gian ác và hai triều đại phục hưng tâm linh sáng chói nhất:
Vua Ê-xê-chia: Đức tin vững vàng trước đạo quân A-si-ri (Chương 18–20)
Ê-xê-chia là một vị vua kính sợ Chúa mẫu mực: dẹp bỏ các nơi cao, đập vỡ các trụ tượng và đập nát con rắn đồng mà Môi-se từng làm năm xưa vì dân chúng đã biến nó thành ngẫu tượng thờ lạy và đốt hương cho nó (gọi là Nê-hu-sơ-than - "Vật Bằng Đồng").
Khi vua hung bạo San-hê-ríp của đế quốc A-si-ri kéo đại quân san phẳng các thành Giu-đa và bao vây Giê-ru-sa-lem, tướng Ráp-sa-kê buông lời sỉ nhục Đức Chúa Trời hằng sống trước mặt toàn dân trên tường thành. Ê-xê-chia xé áo, mặc bao gai bước vào Đền Thờ, trải bức thư đe dọa của vua A-si-ri trước mặt Chúa và tha thiết kêu cầu:
'Bây giờ, lạy CHÚA, Đức Chúa Trời chúng con, xin giải cứu chúng con khỏi tay nó, để muôn nước trên đất đều biết rằng chỉ một mình Ngài, lạy CHÚA, là Đức Chúa Trời!' — 2 Các Vua 19:191
Tiên tri Ê-sai báo tin mừng chiến thắng từ nơi Chúa. Đêm hôm đó, Thiên sứ của CHÚA giáng xuống đánh chết 185.000 quân lính A-si-ri trong trại quân. San-hê-ríp bàng hoàng rút tàn quân chạy về kinh đô Ni-ni-ve và sau đó bị chính các con trai mình ám sát trong đền thờ thần Nít-rốc (Chương 19).
Ê-xê-chia mắc bạo bệnh sắp chết, ông khóc lóc cầu nguyện và được Chúa ban thêm 15 năm tuổi thọ cùng dấu lạ bóng mặt trời lùi lại mười độ trên đồng hồ A-cha (Chương 20).
Vết trượt dài của Ma-na-se (Chương 21)
Con trai Ê-xê-chia là Ma-na-se trị vì 55 năm và trở thành vị vua gian ác, tồi tệ nhất trong lịch sử Giu-đa: xây lại các miếu thờ tà thần mà cha ông đã phá, lập bàn thờ Ba-anh và đạo binh thiên nhiên ngay trong hai sân của Đền Thờ Chúa, dâng chính con trai mình qua lửa cho tà thần Mô-lóc, bói toán, cầu hồn và làm đổ máu vô tội ngập tràn từ đầu này đến đầu kia Giê-ru-sa-lem. Tội ác ghê tởm của Ma-na-se đã khiến chén thịnh nộ của Chúa đầy tràn và ấn định án phạt lưu đày không thể đảo ngược trên Giu-đa (21:10–15).
Vua Giô-si-a: Cuộc đại phục hưng và Tìm lại Sách Luật Pháp (Chương 22–23)
Sau triều đại ngắn ngủi của A-môn, cậu bé Giô-si-a lên ngôi lúc 8 tuổi và hết lòng bước đi trong đường lối của tổ phụ Đa-vít.
Năm thứ mười tám trị vì, khi truyền lệnh tu bổ Đền Thờ, thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia đã tìm thấy Cuộn Sách Luật Pháp (sách Phục Truyền) bị bỏ quên bụi bặm trong đền thờ. Khi nghe thư ký Sa-phan đọc các lời răn đe phán xét trong sách Luật Pháp, Giô-si-a xé áo mình khóc lóc ăn năn.
Nữ tiên tri Hun-đa báo trước rằng án phạt trên Giê-ru-sa-lem là chắc chắn, nhưng vì Giô-si-a có tấm lòng mềm mại hạ mình trước Chúa nên tai họa sẽ không giáng xuống trong đời ông.
Giô-si-a đã lãnh đạo cuộc đại phục hưng tôn giáo triệt để nhất lịch sử:
- Tập hợp toàn dân từ lớn đến nhỏ long trọng đọc lại Sách Giao Ước và lập lại giao ước với Chúa.
- Dẹp sạch mọi dụng cụ thờ Ba-anh và Át-tạt-tê ra khỏi Đền Thờ và đốt thành tro tại thung lũng Kít-rôn.
- Phá hủy bàn thờ bò vàng ô uế tại Bê-tên đúng như lời tiên tri đã phán từ ba trăm năm trước thời Giê-rô-bô-am (1 Các Vua 13:2).
- Tổ chức một kỳ Lễ Vượt Qua long trọng và thánh khiết chưa từng thấy kể từ thời Các Quan Xét (23:21–23).
Kinh Thánh dành cho Giô-si-a lời ngợi khen tuyệt mỹ: "Trước ông không có vua nào hết lòng, hết linh hồn, hết sức mình quay lại cùng CHÚA theo toàn bộ luật pháp của Môi-se như ông, và sau ông cũng chẳng có ai giống như ông" (23:25).
7. Giê-ru-sa-lem sụp đổ và Tia hy vọng cuối sách (Chương 24–25)
Sau cái chết bi thương của Giô-si-a trong trận chiến với Pha-ra-ôn Nê-cô tại Mê-ghi-đô, các vua kế vị (Giê-hô-a-cha, Giê-hô-gia-kim, Giê-hô-gia-kin, Sê-đê-kia) đều là những kẻ bù nhìn, gian ác và cứng lòng, đẩy đất nước trượt nhanh xuống vực thẳm diệt vong.
Đế quốc Ba-by-lôn dưới quyền đại đế Nê-bu-cát-nết-xa vươn lên thành bá chủ thế giới, thay thế A-si-ri và Ai Cập:
- Năm 605 TCN và 597 TCN: Nê-bu-cát-nết-xa tấn công Giê-ru-sa-lem, bắt vua Giê-hô-gia-kin cùng hàng vạn quý tộc, tướng lĩnh, thợ tài hoa và tiên tri (trong đó có Đa-ni-ên và Ê-xê-chi-ên) đi lưu đày đợt đầu.
- Vua cuối cùng là Sê-đê-kia phản nghịch Ba-by-lôn. Năm 586 TCN, đạo quân Ba-by-lôn kéo đến vây hãm Giê-ru-sa-lem trong suốt hai năm khiến kinh thành rơi vào cảnh đói khát cùng cực.
- Ngày mùng 9 tháng 4 năm 586 TCN, quân Ba-by-lôn chọc thủng tường thành. Vua Sê-đê-kia chạy trốn nhưng bị bắt tại đồng bằng Giê-ri-cô; quân giặc giết các con trai ông ngay trước mắt ông, sau đó móc hai mắt Sê-đê-kia, xích bằng xiềng đồng và giải về Ba-by-lôn.
Quan thị vệ Nê-bu-da-ra-đan thi hành bản án hủy diệt toàn diện:
- Phóng hỏa thiêu rụi Đền Thờ của CHÚA, cung điện hoàng gia và mọi dinh thự lớn tại Giê-ru-sa-lem.
- San phẳng toàn bộ tường thành Giê-ru-sa-lem thành bình địa.
- Đập vỡ hai cột đồng lớn (Gia-kin và Bô-ô), Biển đúc bằng đồng và cướp sạch mọi khí cụ thánh bằng vàng bạc chở về Ba-by-lôn.
- Toàn bộ dân cư Giu-đa bị bắt đi đày sang Ba-by-lôn, chỉ để lại một số người nghèo khổ nhất xứ làm nghề trồng nho và cày cấy (Chương 25).
Tia hy vọng le lói nơi chốn lưu đày (Chương 25:27–30)
Cuốn sách lịch sử bi thương dài hàng trăm năm không kết thúc trong sự tuyệt vọng hoàn toàn, mà khép lại bằng bốn câu văn ngắn ngủi nhưng chứa đựng cả một bầu trời hy vọng cứu chuộc:
Vào năm thứ 37 của cuộc lưu đày (năm 561 TCN), tân vương Ba-by-lôn là Ê-vinh Mê-rô-đác lên ngôi đã thi ân cho vua Giê-hô-gia-kin của Giu-đa:
- Phóng thích ông ra khỏi ngục tù tăm tối.
- Nói những lời nhân từ và đặt ngai ông cao hơn ngai các vua bị giam cùng tại Ba-by-lôn.
- Cho ông cởi bỏ áo tù, ban cho ông đặc ân ngồi ăn chung bàn với vua Ba-by-lôn và cấp dưỡng khẩu phần ăn hằng ngày cho ông suốt trọn đời.
Chi tiết này là một dấu chỉ thần học thiêng liêng: Dù Đền Thờ đã bị cháy rụi, đất nước bị mất và dân sự bị lưu đày, nhưng dòng dõi vương quyền của Đa-vít vẫn chưa bị tiêu diệt! Đức Chúa Trời vẫn đang âm thầm gìn giữ dòng dõi này nơi chốn lưu đày để làm thành lời hứa giao ước vĩnh cửu — chuẩn bị cho sự ra đời của Đấng Mê-si-a, Con Vua Đa-vít, sau này.
8. Sách 2 Các Vua trong bức tranh cứu chuộc và hình bóng Đấng Christ
- Chức vụ của Ê-li-sê dự phóng các Phép Lạ của Chúa Giê-xu:
- Ê-li-sê chữa lành bệnh phong hủi (Na-a-man) Chúa Giê-xu đụng chạm và chữa sạch người phong hủi (Ma-thi-ơ 8:1–3).
- Ê-li-sê khiến con trai người nữ Su-nem sống lại Chúa Giê-xu khiến con trai người góa phụ thành Na-in và La-xa-rơ sống lại từ cõi chết (Lu-ca 7:11–17; Giăng 11).
- Ê-li-sê hóa bánh nuôi 100 người Chúa Giê-xu hóa bánh nuôi 5.000 người (Giăng 6).
- Na-a-man và Ân điển cứu rỗi cho Dân Ngoại: Chúa Giê-xu đã dùng chính câu chuyện Na-a-man trong bài giảng đầu tiên tại Na-xa-rét (Lu-ca 4:27) để công bố rằng ân điển cứu rỗi của Đức Chúa Trời vượt qua ranh giới Y-sơ-ra-ên để tuôn đổ trên mọi dân tộc có lòng tin kính và hạ mình vâng phục.
- Sự thành tín của Giao ước Đa-vít: Sự sống sót của Giê-hô-gia-kin nơi lưu đày Ba-by-lôn là mắt xích bảo tồn gia phả dẫn thẳng đến Chúa Cứu Thế Giê-xu (Ma-thi-ơ 1:11–12).
9. Bài học thực tiễn cho người theo Chúa hôm nay
- Sự kiên nhẫn và Công lý nghiêm minh của Chúa: Đừng bao giờ lầm tưởng sự chậm trễ phán xét của Chúa là sự dung túng tội lỗi. Chúa kiên nhẫn cho con người cơ hội ăn năn, nhưng nếu cứ ngoan cố khước từ Lời Ngài, sự phán xét là điều chắc chắn và không thể tránh khỏi.
- Tầm quan trọng của Lời Chúa trong đời sống: Cuộc phục hưng của Giô-si-a bắt đầu từ việc tìm lại và vâng phục Sách Luật Pháp. Hội Thánh và đời sống cá nhân chỉ có thể được phục hưng thực sự khi chúng ta quay trở lại lấy Lời Hằng Sống của Chúa làm tiêu chuẩn tối cao cho mọi suy nghĩ và hành động.
- Hạ mình để nhận lãnh ân điển: Giống như Na-a-man phải từ bỏ lòng tự ái kiêu ngạo để dìm mình dưới dòng sông Giô-đanh đục ngầu mới nhận được sự chữa lành, con người chỉ có thể nhận được sự cứu rỗi khi hạ mình ăn năn, từ bỏ sự công chính riêng và tin cậy hoàn toàn nơi dòng huyết cứu chuộc của Đấng Christ.
- Mắt thuộc linh nhìn thấy Đạo quân Thiên đàng: Khi đối diện với những áp lực bủa vây của cuộc đời, hãy cầu xin Chúa "mở mắt thuộc linh" để chúng ta nhìn thấy sự bảo vệ quyền năng của Đức Chúa Trời Vạn Quân — vì Đấng ở trong chúng ta vĩ đại hơn kẻ ở trong thế gian (1 Giăng 4:4).