Tình yêu là gì?
Tình yêu, từ ngàn đời nay, đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho văn chương, nghệ thuật và âm nhạc. Trong tâm hồn con người, tình yêu không chỉ là cảm xúc mà còn là năng lượng, là niềm tin và động lực cho con người trong cuộc sống.
Từ "yêu" luôn bao hàm nhiều ngữ nghĩa. Nó có thể được biểu đạt khi một ai đó rất thích một điều gì đó như đồ vật, hoạt động, một điều mà sự quan tâm của họ không thể đánh đồng với bất cứ điều gì khác hay nó chính là một phần của bản sắc văn hóa họ và khiến họ thấy đáng sống. Tuy nhiên, khi nhắc đến "yêu", hầu hết mọi người đều sẽ nói về tình yêu giữa người với người.
Nhưng thực chất yêu là gì? Liệu nó có như nhà thơ Xuân Diệu nói:
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu...
Vậy, hãy cùng đến với phần sau đây để hiểu biết rõ hơn về tình yêu, cái thứ mà khiến bao nhiêu con tim dao động, bao nhiêu tâm trí chao đảo.
Tình yêu trong triết học Hy lạp
Dưới góc nhìn của triết học Hy lạp cổ đại, cái nôi của triết học thế giới hiện nay, "yêu" hay "tình yêu" được chia thành ba từ riêng biệt là eros, agape, and philia được dùng ở các ngữ nghĩa khác biệt nhau:
Eros nghĩa là tình yêu dưới dạng một ham muốn mãnh liệt đối với một đối tượng, thường là đam mê tình dục;
Philia là một cảm tình trìu mết hoặc cảm giác thân thiện đối với gia đình hay bạn bè, đối tác kinh doanh, đất nước, v.v. cũng giống như eros, philia thường được hiểu là phản ứng đối với những phẩm chất tốt ở người mình yêu;
Cuối cùng là Agape, hay được biết đến như tình yêu mặc dầu, là loại tình yêu tự phát và không có động lực, không phụ thuộc vào giá trị của vật thể được yêu, trái với eros - tình yêu có điều kiện.
Tình yêu Agape trong Kinh Thánh
Kinh Thánh, đặc biệt là Kinh Thánh Tân Ước, được Đức Chúa Trời thần cảm cho các tác giả ghi chép chủ yếu bằng tiếng Hy Bá và Hy lạp cổ, vì vậy cách dùng từ có sự ảnh hưởng sâu sắc bởi văn hóa và ngôn ngữ Hy lạp cổ đại. Tình yêu Agape trong Kinh Thánh được mô tả vô cùng rõ ràng với hơn 200 lần xuất hiện trong các sách Tân Ước, thường được sử dụng để miêu tả tình yêu của Chúa dành ho con người:
Vì Đức Chúa Trời agapao nhân loại, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, để ai tin nhận Đấng ấy sẽ không bị hư mất nhưng được sự sống vĩnh phúc.' ~ Giăng 3:16 ~
Agape xuất hiện trong hai điều răn lớn nhất của Chúa cho con người:
'Hãy hết lòng, hết linh hồn, hết lý trí agapao Chúa là Đức Chúa Trời ngươi. Đó là điều răn thứ nhất và quan trọng nhất. Còn điều răn thứ hai cũng như thế: Hãy agapao người khác như chính mình.' ~ Ma-thi-ơ 22:37-39 ~
Sự mô tả tương đối đầy đủ về hình thái của agape:
'Agape hay nhẫn nhục, agape nhân từ, không ghen ghét, không khoe khoang, không kiêu ngạo, không khiếm nhã, không tìm tư lợi, không dễ nóng giận, không ghi nhớ việc ác, không vui về việc bất chính nhưng chung vui trong sự thật. Agape dung thứ mọi sự, tin tưởng mọi sự, hy vọng mọi sự, chịu đựng mọi sự. Agape không bao giờ chấm dứt.' ~ 1 Cô-rinh-tô 13:4-8a ~
Nói tóm lại, dưới thời của Hy lạp cổ đại, đã có một hệ thống định nghĩa về tình yêu đầy đủ và rõ ràng, được công nhận rộng rãi thậm chí cho đến ngày nay, đặc biệt là trong cộng đồng Cơ Đốc, nhóm người lấy Kinh Thánh làm mẫu số chung.
Tình yêu trong triết học hiện đại
Dựa theo Bách khoa toàn thư về Triết học của Stanford, các lí thuyết về tình yêu được các triết gia tạm phân loại thận trọng thành bốn loại: tình yêu như sự hiệp một, tình yêu như sự quan tâm sâu sắc, tình yêu như sự trân trọng và tình yêu như một cảm xúc.
Tình yêu như sự hiệp một
Lý thuyết Tình yêu như sự hiệp một cho rằng tình yêu bao gồm sự hình thành (hoặc mong muốn hình thành) một số loại hiệp nhất quan trọng, một "chúng ta". Nhưng cái "chúng ta" đó là gì?
Scruton, khi nói về tình yêu lãng mạn, đã tuyên bố rằng tình yêu tồn tại "ngay khi sự có đi có lại trở thành cộng đồng: tức là ngay khi mọi sự khác biệt giữa lợi ích của tôi và lợi ích của bạn bị vượt qua". Hay như triết gia Solomon có nói rằng thông qua tình yêu, những người yêu nhau định nghĩa lại bản sắc cá nhân của họ và tạo thành một thể thống nhất: "Tình yêu là sự tập trung và tập trung sâu sắc của định nghĩa cộng đồng trên một định nghĩa cá nhân, thực tế chi phối tất cả các khía cạnh cá nhân của một người trong quá trình này."
Tình yêu như sự quan tâm sâu sắc
Tình yêu như sự quan tâm sâu sắc có thể được tóm tắt như sau: nếu A yêu B thì A muốn được làm lợi cho B và ở bên B,... và A có những mong muốn đó (hoặc ít nhất có một số) bởi vì A tin rằng B có một số đặc điểm xác định C mà sự làm lợi và ở bên B là xứng đáng. A coi việc thỏa mãn những mong muốn này là mục đích chứ không phải là phương tiện để đạt được mục đích khác.
Triết gia Frankfurt nêu lên trọng tâm của quan điểm này rằng tình yêu "không phải là tình cảm hay nhận thức. Nó là ý chí" ông tiếp tục: "Việc một người quan tâm hoặc yêu thứ gì đó ít liên quan đến cách mọi thứ khiến họ cảm thấy, hoặc đến ý kiến của họ về chúng, mà liên quan đến các cấu trúc động lực hình thành nên sở thích của họ và hướng dẫn và hạn chế hành vi của họ".
Tuy nhiên, việc tình yêu là ý chí không phủ nhận tình cảm hay nhận thức trong tình yêu, mà cho rằng chúng là hậu quả của ý chí. Ví dụ như nếu A có mong muốn mạnh mẽ cho B nhưng mong muốn đó bị thất vọng, thì A có thể bị suy sụp trong cảm xúc.
Tình yêu như sự trân trọng
Khái niệm thứ ba hiểu tình yêu như một phương thức đặc biệt để giá trị một người.
Khi A yêu B, có hai cách để diễn giải điều này:
- A định giá giá trị của B
- A là người ban phát giá trị cho B.
1. Người yêu định giá giá trị của người được yêu
Triết gia Velleman đưa ra quan điểm rằng tình yêu cơ bản là vấn đề thừa nhận và phản ứng theo cách riêng biệt với giá trị của người được yêu. Quan điểm này cho rằng tình yêu bao gồm trong sự đánh giá chứ không phải việc đánh giá nằm trong tình yêu.
Khi nói về giá trị (value) mà tình yêu bao hàm, Velleman, dựa theo Kant, phân biệt phẩm giá (dignity) với giá cả (price). Giá cả của một vật chỉ rằng vật có thể trao đổi với vật khác cùng giá trị. Nhưng con người thì có phẩm giá, không có sự thay thế nào của một người này cho một người khác có thể bảo toàn chính xác cùng một giá trị, vì một điều không thể lượng giá sẽ mất đi (và nhận được) trong sự thay đổi đó.
Vì vậy, Velleman tuyên bố rằng tình yêu cũng là một phản ứng đối với phẩm giá của con người, và như vậy, phẩm giá của đối tượng mà chúng ta yêu chính là điều biện minh cho tình yêu đó. Ông cũng cho rằng, tình yêu không ngăn chặn tình yêu bản thân của chúng ta mà nó giải trừ sự phòng thủ về mặt cảm xúc của chúng ta, nên nó khiến chúng ta dễ bị tổn thương trước người khác. Điều này cũng có nghĩa là sự quan tâm, sự hấp dẫn, sự đồng cảm, v.v. mà chúng ta thường liên tưởng đến tình yêu không phải là thành phần của tình yêu mà đúng hơn là những tác động bình thường của nó, và tình yêu có thể tồn tại mà không cần chúng.
2. Người yêu ban phát giá trị của mình cho người được yêu
Ngược lại với Velleman, triết gia Singer hiểu rằng tình yêu về cơ bản là vấn đề trao tặng giá trị cho người được yêu. Trao tặng giá trị cho người khác là chiếu một loại giá trị nội tại lên người đó. Thật vậy, sự thật này về tình yêu được cho là để phân biệt tình yêu với sự thích: "Tình yêu là một thái độ không có mục tiêu rõ ràng", trong khi thích vốn có mục đích luận. "Tình yêu... ban cho điều quan trọng bất kể giá trị của nó là bao nhiêu".
Theo Singer, trao tặng giá trị là một loại gắn bó và cam kết với người mình yêu, trong đó người ta coi người đó như một mục đích trong chính mình và do đó đáp lại mục đích, sở thích, mối quan tâm, v.v. của người đó như có giá trị vì chính chúng. Điều này có nghĩa là một phần việc trao tặng giá trị thể hiện "bằng cách quan tâm đến nhu cầu và sở thích của người mình yêu, bằng cách mong muốn mang lại lợi ích hoặc bảo vệ người đó, bằng cách vui mừng trước những thành tựu của người đó".
Và chính sự ban tặng là yếu tố chính để hiểu được tình yêu bao gồm những gì: sự đánh giá chỉ cần thiết để cam kết với người mình yêu và giá trị của người đó khi được ban tặng có ý nghĩa thực tế và không phải là "sự phục tùng mù quáng đối với một ai đó".
Tình yêu như một cảm xúc
Rorty cho rằng việc tuyên bố "tình yêu là cảm xúc" là khó khăn vì từ "cảm xúc" dường như không chỉ ra một tập hợp đồng nhất các trạng thái tinh thần, và do đó, các lý thuyết khác nhau cho rằng tình yêu là cảm xúc có các khái nhiệm rất khác nhau. Do đó phần này được chia làm hai quan điểm chính:
- Tình yêu là một loại phản ứng đánh giá kiêm động cơ cụ thể đối với một đối tượng, cho dù phản ứng đó tự xảy ra hay có tính định hướng (cảm xúc thực sự)
- Tình yêu bao gồm một tập hợp các cảm xúc thực sự có liên quan và kết nối với nhau (phức hợp cảm xúc)
1. Tình yêu như một cảm xúc thực sự
Cảm xúc là một phản ứng đánh giá kiêm động cơ. Mục tiêu của cảm xúc là thứ mà cảm xúc hướng đến. Khi tôi sợ bạn, bạn là mục tiêu của cảm xúc của tôi, và tôi đang ngầm đánh giá bạn là nguy hiểm, điều này thúc đẩy hành động của tôi theo cách lý trí (chủ động lánh xa bạn) hoặc phi lý trí (giật mình khi bạn lại gần). Cảm xúc cũng được hiểu tiêu biểu như một sự ham mê: các phản ứng mà chúng ta cảm giác như được đặt vào mình như thể nó đến từ bên ngoài chứ không phải là điều mà chúng ta chủ động làm.
Vậy cả, tình yêu như một cảm xúc thật sự là như thế nào?
Theo triết gia Brown, cảm xúc là trạng thái tinh thần mà khi xảy ra sẽ có "những thay đổi bất thường về cơ thể do tác nhân đánh giá hoặc thẩm định một số đối tượng hoặc tình huống mà tác nhân tin rằng là mối quan tâm của mình". Ông giải thích điều này bằng cách nói rằng trong tình yêu, chúng ta "trân trọng" người đó vì có "một phức hợp đặc biệt gồm các phẩm chất được thể hiện" là "mở" để chúng ta có thể tiếp tục yêu người đó ngay cả khi cô ấy thay đổi theo thời gian. Những phẩm chất này, bao gồm các phẩm chất lịch sử và quan hệ, được đánh giá là đáng giá trong tình yêu.
Tất cả những điều này dường như nhằm mục đích giải thích rõ ràng đối tượng chính thức của tình yêu là gì, một nhiệm vụ cơ bản để hiểu tình yêu như một cảm xúc thực sự.
2. Tình yêu như một phức hợp cảm xúc
Triết gia Rorty không cố gắng trình bày một cách đầy đủ về tình yêu; thay vào đó, bà tập trung vào ý tưởng "thái độ tâm lý quan hệ", giống như tình yêu, về cơ bản bao gồm các phản ứng cảm xúc và mong muốn, thể hiện tính lịch sử: "chúng phát sinh từ và được hình thành bởi các tương tác giữa chủ thể và đối tượng". Điều này một phần có nghĩa là điều khiến thái độ trở thành thái độ của tình yêu không phải là sự hiện diện của trạng thái mà chúng ta có thể chỉ ra tại một thời điểm cụ thể trong người yêu; thay vào đó, tình yêu phải được "xác định bằng một lịch sử tường thuật đặc trưng". Hơn nữa, Rorty lập luận rằng tính lịch sử của tình yêu liên quan đến việc người yêu bị biến đổi vĩnh viễn khi yêu người mà anh ta yêu.
Baier cũng bổ sung vào quan điểm này rằng: "Tình yêu không chỉ là cảm xúc mà mọi người cảm thấy đối với người khác, mà còn là sự gắn kết phức tạp của những cảm xúc mà hai hoặc một vài người có; đó là một hình thức đặc biệt của sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt cảm xúc."
Quan điểm này đạt được một số tiến bộ trong việc hiểu sự phức tạp của tình yêu: đôi khi tình yêu có thể là vấn đề về niềm vui mãnh liệt khi ở bên người mình yêu, nhưng đôi khi nó có thể bao gồm sự thất vọng, bực bội, tức giận và tổn thương như một biểu hiện của sự phức tạp và chiều sâu của các mối quan hệ mà nó nuôi dưỡng.
Vì sao chúng ta yêu?
Có một loại câu trả lời dựa theo Aristotle, đó là có một mối quan hệ yêu đường sẽ thúc đẩy sự tự nhận thức trong chừng mực mà người bạn yêu đóng vai trò như một tấm gương phản chiếu tích cách của chính bản thân mình. Câu trả lời này lại dẫn đến giả định rằng nếu chúng ta không yêu, thì sự tự nhận thức của chúng ta sẽ rất không hoàn hảo, rất thiên vị để có thể phát triển thành nhân.
Whiting đề ra rằng: những người yêu dấu của chúng ta có thể phản ánh bản thân chúng ta không phải thông qua sự giống nhau vốn có của họ với chúng ta mà thông qua những diễn giải mà họ đưa ra về chúng ta, cả rõ ràng và ngầm hiểu trong những phản ứng của họ với chúng ta. Và đây là những gì Badhwar gọi là "ý nghĩa nhận thức" của tình yêu.
Bên cạnh đó, LaFollette đưa ra một số lý do khác giải thích vì sao yêu là điều tốt dựa theo các tài liệu tâm lý về tình yêu: tình yêu làm tăng cảm giác hạnh phúc của chúng ta, nâng cao ý thức về lòng tự trọng của chúng ta và giúp phát triển tính cách của chúng ta. Chúng ta cũng có thể nói thêm rằng tình yêu cũng có xu hướng làm giảm căng thẳng và huyết áp, tăng cường sức khỏe và tuổi thọ.
Friedman lập luận rằng loại thiên vị đối với người mình yêu mà tình yêu bao hàm tự nó có giá trị về mặt đạo đức vì nó hỗ trợ các mối quan hệ - mối quan hệ yêu thương - góp phần "vào hạnh phúc, sự toàn vẹn và sự viên mãn trong cuộc sống của con người".
Cuối cùng, chỉ có một lý do duy nhất cho tình yêu - Solomon tuyên bố. Lý do lớn lao đó là "vì chúng ta phát huy những điều tốt đẹp nhất ở nhau". Tất nhiên, những gì được coi là "điều tốt đẹp nhất" phụ thuộc vào nhiều sự khác biệt của từng cá nhân, "tôi muốn bản thân mình trở nên tốt hơn để xứng đáng với tình yêu mà người đó dành cho tôi".
Kết luận
Tình yêu sẽ luôn là chủ đề mà con người sẽ không ngừng khám phá và chiêm nghiệm, từ những triết lý sâu sắc đến những cảm xúc chân thật trong từng khoảnh khắc của cuộc sống. Trên đây tôi đã đưa ra những quan điểm mà các triết gia có đưa ra về tình yêu, có nhiều quan điểm được công nhận nhưng cũng có những quan điểm gây tranh cãi, song tôi tin việc có một điểm nhìn tổng quát về tình yêu sẽ giúp tôi và chúng ta "yêu" một cách tốt hơn.
Qua bài viết này, tôi cũng phần nào thỏa mãn được câu hỏi ngu ngơ từ năm 15 tuổi trước một mối quan hệ mới rằng "đây có phải là yêu chưa?". Hơn thế nữa, đây cũng là cơ hội để tôi tìm hiểu và nhận về một kiến thức sâu sắc cho bản thân mình.
Dẫn nguồn
- Alysaa Roat, What is Agape Love? Bible Meaning and Examples, URL = https://www.christianity.com/wiki/christian-terms/what-does-agape-love-really-mean-in-the-bible.html
- Helm, Bennett, "Love", The Stanford Encyclopedia of Philosophy (Fall 2021 Edition), Edward N. Zalta (ed.), URL = https://plato.stanford.edu/archives/fall2021/entries/love/.