Tóm lược Kinh Thánh sách thứ 1: Sáng Thế Ký

Sáng Thế ký là một trong 5 sách Ngũ Kinh, nguồn gốc của mọi tôn giáo Abrahamic, là Lời của Đức Chúa Trời được chép bởi Môi-se, nói về công trình sáng tạo vĩ đại của Ngài và miêu tả về sự khởi đầu của dân tộc được Chúa chọn, dân tộc Do Thái. Quyển sách này không nên được coi như một lời giải thích khoa học cặn kẽ về sự sinh ra của vũ trụ nhưng là tiên đề của mọi sự trong mọi loài.

Bài viết này bao gồm tóm tắt về các sự kiện chính có trong sách Sáng Thế Ký bao gồm các chú thích và suy ngẫm của tác giả, được tham khảo trong Kinh Thánh NVB và các nguồn.

1. Sự sáng tạo - Chúa tạo dựng thế giới

'Ban đầu, Đức Chúa Trời sáng tạo trời đất.' - Sáng Thế Ký 1:11

Chỉ với một câu, Kinh Thánh đảm bảo rằng điều đầu tiên để hiểu và biết Kinh Thánh, chúng ta công nhận có một Chúa, là Đấng tạo nên trời và đất. Vì vậy

  • Ngài toàn năng, có quyền trên mọi sự và làm ra mọi sự
  • Ngài toàn tri, Ngài làm ra mọi sự nên có hiểu biết trong mọi sự
  • Ngài toàn tại, quyền năng của Ngài ở mọi nơi

Trong sự sáng tạo Chúa dùng lời của Ngài cho mọi sự, mọi loài đều "tùy theo loại" và "Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp". Ngài đã thủ công "nắn lên loài người từ bụi đất, hà sinh khí vào lỗ mũi và người trở nên một linh hồn sống" (Sáng Thế Ký 2:7). Điều này phân biệt con người với mọi loài động vật khác, kể cả với loài vượn.

Đức Chúa Trời cũng đã tạo ra người nữ (Ê-va) để trở thành một người giúp đỡ (ezer kenegdo) cho người nam (A-đam), qua đó Ngài xác lập nên hôn nhân đầu tiên (Sáng Thế Ký 2:24).

2. Sự sa ngã - Tội lỗi đầu tiên của loài người

Con người đầu tiên đã được tạo dựng với nhiều quyền lợi:

  • Có sự thân mật với Đức Chúa Trời và nghe thấy Ngài
  • Có trí khôn, tính sáng tạo và sự hiểu biết
  • Có sự tự do
  • Được hưởng mọi sự tốt lành mà không cần phải làm lụng nặng nhọc
  • Được sống lâu trên đất
  • Chưa từng biết đến sợ hãi hay xấu hổ
  • Được sinh sôi nảy nở và thống trị mọi điều Chúa tạo dựng trên đất

'CHÚA , Đức Chúa Trời trồng một khu vườn tại Ê-đen ở phía đông và đặt người Ngài đã dựng nên tại đó. CHÚA , Đức Chúa Trời khiến từ đất mọc lên mọi cây cối đẹp mắt và ăn ngon. Giữa vườn có Cây Sự Sống và Cây Biết Thiện Ác. CHÚA , Đức Chúa Trời đem người đặt vào vườn Ê-đen để canh tác và chăm sóc vườn. CHÚA , Đức Chúa Trời truyền lệnh cho người rằng: “Con có thể ăn bất cứ trái cây nào trong vườn, nhưng về ‘Cây Biết Thiện Ác’ thì không được ăn, vì ngày nào con ăn trái đó chắc chắn con sẽ chết.” ' - Sáng 2:8-9,15-171

Chúa dựng nên vườn Ê-đen để đối đãi con người, Ngài cho phép con người đến cùng cây sự sống để được sự sống vĩnh hằng, nhưng cây biết thiện ác, Ngài ngăn cấm.

Có nhiều lời giải thích về cây biết thiện ác (Hada'at tov wa-ra):

  • Theo Rabbi Dr. Hillel ben David, quả của cây này dẫn đến sự nghi ngờ nơi mà thiện và ác tranh đấu. Cũng là cái "tôi" muốn làm điều tốt, nhưng "tôi" cũng muốn làm điều xấu kia, đây là sự trộn lẫn của tốt và xấu. 2
  • Theo nhà thần học Nathan French, sự biết thiện ác ở đây là "tri thức về việc thi hành khen thưởng và hình phạt", tri thức để nắm giữ quyền lực tối cao. 3
  • ...

Bỏ qua sự cảnh báo của Chúa, A-đam và Ê-va đã phạm phải điều ngăn cấm duy nhất:

  • Ê-va đã nghe lời con rắn dụ dỗ, bà đã đối thoại với sự cám dỗ và nhìn, suy nghĩ về nó, và cuối cùng ăn phải trái cấm
  • A-đam là người nhận lệnh truyền từ Chúa cũng đã tham gia vào sự cám dỗ

Hậu quả là A-đam và Ê-va tự xấu hổ vì sự trần truồng và tội lỗi mình phạm phải, trốn tránh trách nhiệm và lánh mặt khỏi Chúa. Sự chia rẽ đã đến giữa con người và Chúa và cả giữa A-đam và Ê-va:

  • "Con nghe tiếng Ngài trong vườn nên sợ vì con trần truồng nên trốn"
  • "Người nữ Ngài đặt bên con đã đưa con trái cây đó và con ăn rồi"
  • "Con rắn lừa gạt con nên con ăn"

Vì đã phạm tội, con người chọn lìa khỏi Chúa và sự rủa sả đến trên con người:

  • Đất đai bị rủa sả, sinh ra gai góc và những loài có độc
  • Con người phải làm lụng vất vả mới có miếng ăn
  • Người nữ sẽ đau đớn khi sinh nở, dục vọng hướng về chồng và sẽ cần một người chồng để quản trị
  • Con người bị đuổi khỏi vườn Ê-đen, sự cung ứng của Chúa

Tuy vậy, Đức Chúa Trời vẫn bày tỏ lòng thương với con người: 'CHÚA , Đức Chúa Trời lấy da thú làm áo mặc cho A-đam và vợ người.' - Sáng Thế Ký 3:211

3. Ca-in và A-bên

Sau khi rời khỏi vườn Ê-đen, A-đam và Ê-va sinh ra Ca-in và A-bên. Ca-in làm nghề nông, còn A-bên chăn chiên. Cả hai đều dâng lễ vật lên Chúa, nhưng Chúa đoái đến A-bên và lễ vật của ông, còn Ca-in và lễ vật của ông thì Ngài không đoái đến. Kinh Thánh cho biết A-bên dâng những con đầu lòng cùng với mỡ của chúng, nghĩa là ông dâng phần đầu tiên và tốt nhất mình có (Sáng Thế Ký 4:4).

Ca-in giận dữ vì lễ vật mình không được chấp nhận. Trước khi ông hành động, Chúa đã cảnh báo:

'Nếu con làm phải, lẽ nào không được chấp nhận? Còn nếu con làm không phải thì tội ác đang rình rập trước cửa, thèm con lắm, nhưng con phải quản trị nó.” ' - Sáng Thế Ký 4:71

  • Tội lỗi không còn chỉ là một lựa chọn sai lầm bên ngoài con người, nhưng như một con thú đang rình rập và muốn cai trị con người.
  • Ca-in đã không chế ngự nó. Ông dụ em mình ra đồng rồi giết A-bên, biến lòng ganh ghét thành vụ giết người đầu tiên.

Khi Chúa hỏi về A-bên, Ca-in đáp: "Con không biết. Con là người giữ em con sao?" Câu trả lời này bày tỏ những điều tội lỗi tiếp tục gây ra:

  • Con người ganh ghét người làm điều công chính
  • Con người dùng bạo lực để giải quyết sự giận dữ
  • Con người nói dối Chúa dù không thể che giấu điều gì khỏi Ngài
  • Con người từ chối trách nhiệm đối với anh em mình

Ca-in bị rủa sả khỏi đất mà ông đã làm ô uế. Nhưng Chúa vẫn đặt một dấu trên Ca-in để không ai tùy ý giết ông. Sự công chính và lòng thương xót của Chúa cùng xuất hiện: Ngài xét đoán tội lỗi, nhưng không trao quyền báo thù vô hạn cho con người.

Dòng dõi Ca-in sau đó xây dựng thành phố, phát triển chăn nuôi, âm nhạc và nghề rèn. Con người vẫn mang khả năng sáng tạo được Chúa ban, nhưng tội lỗi cũng lớn lên cùng nền văn minh. Lê-méc khoe khoang rằng mình đã giết người và đòi báo thù gấp bảy mươi bảy lần.

Đối lập với dòng dõi ấy, A-đam và Ê-va sinh Sết; từ đó người ta bắt đầu cầu khẩn danh CHÚA (Sáng Thế Ký 4:26).

4. Nô-a và cơn đại hồng thủy

Loài người sinh sôi trên đất, nhưng tội lỗi cũng lan rộng. Mọi ý tưởng trong lòng họ chỉ luôn hướng về điều ác, và đất đầy dẫy bạo lực. Sự sa ngã của một gia đình đã trở thành sự hư hoại của cả thế gian. Chúa đau buồn vì con người Ngài đã dựng nên và quyết định xét đoán thế gian bằng một cơn đại hồng thủy.

Nhưng Nô-a được ơn trước mặt Chúa:

  • Ông là người công chính giữa thế hệ mình và đồng đi với Đức Chúa Trời.
  • Chúa truyền cho Nô-a đóng một chiếc tàu lớn, đưa gia đình mình cùng các loài động vật vào trong tàu.
  • Nô-a làm mọi điều Chúa phán, dù sự phán xét chưa xảy ra trước mắt ông.

Cơn mưa kéo dài bốn mươi ngày đêm, nước bao phủ mặt đất và mọi sinh vật ở ngoài tàu đều chết. Sau đó Chúa nhớ đến Nô-a, khiến gió thổi qua đất và nước dần rút xuống. Khi ra khỏi tàu, việc đầu tiên Nô-a làm là lập bàn thờ và dâng tế lễ lên Chúa.

Chúa lập giao ước với Nô-a và mọi sinh vật:

  • Con người tiếp tục sinh sôi và làm đầy dẫy đất
  • Sự sống của con người là thánh vì con người được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời
  • Chúa sẽ không bao giờ dùng nước lụt hủy diệt mọi loài trên đất một lần nữa
  • Cầu vồng trở thành dấu hiệu của giao ước

Đại hồng thủy tẩy sạch một thế giới đầy bạo lực, nhưng không tẩy sạch tội lỗi bên trong con người: Sau cơn lụt, Nô-a say rượu và sự xấu hổ lại xuất hiện trong gia đình ông.

Một khởi đầu mới chưa đủ để tạo nên một con người mới. Loài người vẫn cần một sự cứu chuộc sâu hơn sự thay đổi hoàn cảnh bên ngoài.

5. Tháp Ba-bên - Sự xáo trộn

Sau đại hồng thủy, Chúa truyền cho loài người sinh sôi, làm đầy dẫy đất. Nhưng loài người tụ họp tại đồng bằng Si-nê-a, xây một thành phố và một ngọn tháp cao với mong muốn:

' “Nào, chúng ta hãy xây một thành và một ngôi tháp ngọn cao tận trời Chúng ta hãy lưu danh mình kẻo bị tản lạc khắp mặt đất!” ' - Sáng Thế Ký 11:41

Vấn đề không chỉ nằm ở chiều cao của ngọn tháp.

  • Họ muốn làm rạng danh mình, tự tìm kiếm sự an toàn và chống lại mệnh lệnh phải tản ra khắp đất.
  • Họ dùng sự hiệp nhất, kỹ thuật và sức mạnh tập thể không phải để thờ phượng Chúa, nhưng để tự tôn cao loài người.

Chúa ngự xuống xem thành và tháp của họ. Ngài làm xáo trộn ngôn ngữ, khiến họ không còn hiểu nhau và phải phân tán khắp mặt đất.

'CHÚA phán: “Kìa, toàn thể loài người chỉ có một dân tộc, một ngôn ngữ. Kìa chúng đang khởi công làm việc này, nay không còn gì ngăn cản chúng làm mọi điều chúng hoạch định nữa. ' - Sáng Thế Ký 11:61

Thành ấy được gọi là Ba-bên, gắn với sự hỗn loạn. Điều con người cố tránh cuối cùng vẫn xảy ra; điều họ xây để lưu danh lại trở thành chứng tích của lòng kiêu ngạo.

Ba-bên cho thấy sự hiệp nhất tự nó không luôn là điều tốt. Khi con người hiệp nhất để loại bỏ Chúa và làm lớn danh mình, sự hiệp nhất ấy chỉ khuếch đại tội lỗi. Một lần nữa Chúa phá vỡ kế hoạch của con người nhưng vẫn hoàn thành ý định của Ngài: các dân tộc được hình thành và trải rộng trên đất.4

6. Áp-ra-ham - Cha của mọi dân tộc

Sau khi các dân tộc bị phân tán, câu chuyện tập trung vào một người: Áp-ram. Chúa gọi ông rời quê hương, họ hàng và nhà cha mình để đi đến vùng đất Ngài sẽ chỉ cho. Chúa hứa:

  • Làm cho ông thành một dân lớn
  • Ban phước và làm cho danh ông trở nên lớn
  • Ban phước cho người chúc phước ông và rủa sả người rủa sả ông
  • Qua ông, mọi gia đình trên đất sẽ được phước

Đối nghịch với những người xây tháp Ba-bên để tự làm lớn danh mình, Áp-ram nhận một danh lớn từ Chúa bằng đức tin và sự vâng lời. Ông ra đi dù chưa biết chính xác mình sẽ đến đâu. Khi Chúa hứa ban cho ông dòng dõi đông như sao trời, "Áp-ram tin CHÚA, nên Ngài kể cho người là công chính." (Sáng Thế Ký 15:6)1.

Tuy nhiên, đức tin của Áp-ra-ham không phải lúc nào cũng mạnh mẽ.

  • Vì sợ hãi, ông hai lần nói Sa-ra là em gái mình.
  • Vì thiếu kiên nhẫn chờ đợi lời hứa, ông nghe lời Sa-ra và có một con trai với A-ga là Ích-ma-ên. Con người cố hoàn thành lời hứa của Chúa bằng cách riêng đã đem đến đau khổ và chia rẽ trong gia đình.

Chúa vẫn thành tín.

  • Ngài đổi tên Áp-ram, nghĩa là "người cha cao quý", thành Áp-ra-ham, "cha của nhiều dân tộc";
  • Ngài đổi Sa-rai thành Sa-ra và lập phép cắt bì làm dấu của giao ước.
  • Chúa cũng báo trước sự ra đời của I-sác, người con của lời hứa.

Áp-ra-ham còn bày tỏ một đức tin trưởng thành hơn qua hai sự kiện:

  • Ông cầu thay cho thành Sô-đôm, xin Chúa không tiêu diệt người công chính chung với kẻ gian ác
  • Ông vâng lời dâng I-sác, người con mình yêu, vì tin rằng Chúa vẫn có thể hoàn thành lời hứa

Chúa ngăn tay Áp-ra-ham và cung cấp một con chiên đực để dâng thay cho I-sác. Tại đó Áp-ra-ham gọi danh nơi ấy là "CHÚA sẽ cung ứng". Cuộc đời ông cho thấy đức tin không phải là không bao giờ sợ hãi hay thất bại, nhưng là tiếp tục trở về, tin cậy và vâng lời Đấng giữ lời hứa.

7. I-sác - Người cười

I-sác được sinh ra khi Áp-ra-ham một trăm tuổi và Sa-ra đã quá tuổi sinh con.

  • Tên của ông có nghĩa là "người cười", nhắc lại việc cả Áp-ra-ham lẫn Sa-ra từng bật cười trước một lời hứa dường như không thể xảy ra.
  • Sự ra đời của I-sác biến tiếng cười hoài nghi thành tiếng cười vui mừng, chứng minh rằng lời Chúa không phụ thuộc vào khả năng của con người.

I-sác là người con được đặt trên bàn thờ tại núi Mô-ri-a và được Chúa cứu bằng một sinh tế thay thế. Sau đó Áp-ra-ham sai đầy tớ trở về quê hương tìm vợ cho con. Qua sự hướng dẫn của Chúa, người đầy tớ gặp Rê-bê-ca bên giếng nước. Rê-bê-ca tự nguyện rời gia đình để đến làm vợ I-sác, và I-sác được an ủi sau cái chết của mẹ mình.

So với Áp-ra-ham và Gia-cốp, cuộc đời I-sác được kể ngắn hơn và ít biến động hơn.

  • Ông đào lại những giếng nước của cha mình. Khi người Phi-li-tin tranh giành, ông nhiều lần nhường chỗ và đào giếng khác thay vì dùng bạo lực.
  • Cuối cùng Chúa cho ông một nơi rộng rãi và xác nhận lại giao ước đã lập với Áp-ra-ham.

I-sác cũng có những yếu đuối giống cha mình.

  • Vì sợ bị giết, ông nói Rê-bê-ca là em gái.
  • Trong gia đình, ông yêu Ê-sau vì thích thịt săn, còn Rê-bê-ca yêu Gia-cốp. Sự thiên vị của cha mẹ góp phần tạo nên lừa dối và chia rẽ giữa hai người con.

Dù vậy, lời hứa của Chúa tiếp tục qua I-sác. Ông là chiếc cầu lặng lẽ giữa Áp-ra-ham và Gia-cốp, cho thấy công việc của Chúa không chỉ diễn ra qua những biến cố lớn, nhưng còn qua một đời sống kiên trì ở lại trong lời hứa.

8. Gia-cốp - Kẻ nắm gót chân

Gia-cốp và Ê-sau là hai con sinh đôi của I-sác và Rê-bê-ca. Khi sinh ra, Gia-cốp nắm gót chân anh mình, sau này ông mua quyền trưởng nam của Ê-sau bằng một bát canh rồi cùng mẹ giả dạng Ê-sau để nhận lời chúc phước từ người cha đã già và mù.

Gia-cốp đạt được điều mình muốn bằng mưu kế nhưng phải trả giá: ông chạy trốn khỏi nhà vì Ê-sau muốn giết mình. Trên đường đi, ông ngủ tại Bê-tên và thấy một chiếc thang nối đất với trời, các thiên sứ đi lên đi xuống. Chúa đứng trên thang, xác nhận giao ước của Áp-ra-ham và hứa sẽ ở cùng, gìn giữ rồi đưa ông trở về.

Tại nhà La-ban, kẻ lừa dối gặp một người còn khôn ngoan hơn mình.

  • Gia-cốp làm việc bảy năm để cưới Ra-chên nhưng bị đánh tráo bằng Lê-a, rồi phải làm thêm bảy năm nữa.
  • Sau nhiều năm bị thay đổi tiền công và tranh giành trong gia đình, ông trở nên giàu có rồi quyết định trở về Ca-na-an.

Trước khi gặp lại Ê-sau, Gia-cốp vô cùng sợ hãi. Trong đêm, ông vật lộn với một người cho đến rạng đông. Ông bị đánh trật khớp hông nhưng vẫn giữ lấy và xin được ban phước.

Đức Chúa Trời đã biến đổi cuộc đời ông, một cuộc đời cứ vật lộn, tìm kiếm điều mình muốn nhưng lại chìm ngập trong lo sợ, mệt mỏi:

  • Ngài chủ động gặp ông Gia-cốp, chủ động vật lộn với ông suốt đêm, khi nói ông Gia-cốp thắng có nghĩa là ông đã nhận được sự ban phước của Chúa.
  • Ngài chủ động bắt phục ông Gia-cốp bằng cách đánh trặc xương hông, chủ động bắt ông phải xưng ra bản tính xấu xa, lừa đảo của mình bằng cái tên Gia-cốp, chủ động ban phước cho ông khi ông cầu xin.
  • Đặc biệt là Ngài đã chủ động đổi tên ông Gia-cốp, kẻ nắm gót, thành Y-sơ-ra-ên, người vật lộn với Đức Chúa Trời.

Khi gặp nhau, Ê-sau không giết Gia-cốp nhưng chạy đến ôm em mình.

  • Sự hòa giải mà Gia-cốp không thể mua bằng quà tặng đã đến bởi lòng thương xót. Tuy nhiên, gia đình ông vẫn phải chịu nhiều hậu quả của sự thiên vị, ganh ghét và lừa dối.
  • Mười hai người con trai của Gia-cốp về sau trở thành tổ phụ của mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên; Chúa dùng một gia đình đầy khiếm khuyết để hình thành dân tộc của giao ước.

9. Giô-sép - Chúa sẽ ban ơn thêm

Giô-sép là con trai Gia-cốp sinh ra trong tuổi già và được cha yêu hơn các anh.

  • Gia-cốp may cho ông một chiếc áo đặc biệt, khiến lòng ganh ghét trong gia đình càng lớn.
  • Giô-sép lại kể những giấc mơ cho thấy cha mẹ và các anh sẽ cúi xuống trước mình. Các anh ban đầu định giết ông, sau đó bán ông cho những thương buôn đi xuống Ai Cập và dùng máu dê để khiến cha tin rằng ông đã bị thú dữ ăn thịt.

Tại Ai Cập, Giô-sép bị bán vào nhà Phô-ti-pha. Chúa ở cùng ông và khiến mọi việc ông làm được thịnh vượng. Khi vợ Phô-ti-pha dụ dỗ, Giô-sép từ chối phạm tội với chủ mình và với Chúa.

'Trong nhà không có ai lớn hơn tôi, chủ không giữ lại bất luận điều gì ngoại trừ bà vì bà là vợ ông chủ. Lẽ nào tôi làm điều đại ác và phạm tội với Đức Chúa Trời sao?” ' - Sáng Thế Ký 39:91

Dù làm điều đúng, ông vẫn bị vu cáo và tống vào tù. Đức tin không khiến Giô-sép tránh khỏi bất công, nhưng sự hiện diện của Chúa không rời khỏi ông trong bất công.

Trong tù, Giô-sép giải nghĩa chính xác giấc mơ của quan dâng rượu và quan làm bánh.Ông bị quên lãng thêm hai năm, cho đến khi Pha-ra-ôn có những giấc mơ không ai giải được.

Giô-sép nói rõ rằng sự giải nghĩa không đến từ mình nhưng từ Đức Chúa Trời. Ông báo trước bảy năm dư dật và bảy năm đói kém, đồng thời đề xuất kế hoạch tích trữ lương thực. Pha-ra-ôn lập ông làm người cai trị đứng thứ hai tại Ai Cập.

Nạn đói đưa các anh của Giô-sép đến Ai Cập mua lương thực. Họ cúi xuống trước ông mà không nhận ra, khiến những giấc mơ năm xưa được ứng nghiệm. Giô-sép thử lòng các anh để xem họ còn sẵn sàng hy sinh một người em vì lợi ích mình hay không. Khi Giu-đa xin chịu làm nô lệ thay cho Bên-gia-min để cha không phải đau khổ, Giô-sép nhận ra họ đã thay đổi và bày tỏ thân phận.

Giô-sép không báo thù. Ông nói:

'Các anh có ý làm hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại dụng ý làm điều ích lợi để hoàn thành mọi việc đã qua tức là cứu mạng sống của nhiều người. '- Sáng Thế Ký 50:201

Sự tha thứ của Giô-sép không gọi điều ác là điều tốt. Ông nhìn nhận rõ ý định xấu của các anh, nhưng cũng nhìn thấy quyền tể trị của Chúa lớn hơn tội lỗi con người. Cùng một sự kiện có thể chứa ý định gian ác của con người và ý định cứu chuộc của Đức Chúa Trời, mà Chúa không phải là tác giả của điều ác.

Gia đình Gia-cốp xuống Ai Cập và được cứu khỏi nạn đói. Trước khi qua đời, Giô-sép vẫn tin rằng Chúa sẽ thăm viếng dân Ngài và đưa họ trở về vùng đất đã hứa. Sáng Thế Ký bắt đầu bằng sự sống được dựng nên trong một khu vườn, nhưng kết thúc với Giô-sép nằm trong quan tài tại Ai Cập. Lời hứa vẫn còn đó, nhưng dân Chúa phải chờ đợi sự giải cứu được tiếp nối trong sách Xuất Ê-díp-tô Ký.

Dẫn nguồn

Footnotes

  1. Mọi trích dẫn Kinh Thánh được trích từ Kinh Thánh Bản Dịch Mới (NVB) 2 3 4 5 6 7 8 9

  2. https://www.betemunah.org/thetree.html

  3. Nathan S. French (2021). A Theocentric Interpretation of הדעת טוב ורע: The Knowledge of Good and Evil as the Knowledge for Administering Reward and Punishment

  4. https://www.gotquestions.org/different-races.html